Categories Uncategorized

Masan đón đỉnh lợi nhuận cao nhất lịch sử, một công ty con lãi gấp 5 lần cùng kỳ

Phần tăng trưởng lợi nhuận mang tính đột biến nửa đầu năm 2026 của tập đoàn chủ yếu đến từ Masan High-Tech Materials, trong bối cảnh giá vonfram tăng mạnh.

Báo cáo tài chính hợp nhất chưa kiểm toán cho thấy Công ty Cổ phần Tập đoàn Masan (HoSE: MSN) đạt doanh thu thuần hơn 52.137 tỷ đồng trong sáu tháng đầu năm 2026, tăng 40,1% so với cùng kỳ. Lợi nhuận sau thuế đạt 5.773 tỷ đồng, gấp 2,2 lần. Phần lợi nhuận thuộc về cổ đông công ty mẹ đạt 4.371 tỷ đồng, gấp hơn ba lần cùng kỳ.

Riêng quý II, Masan ghi nhận doanh thu hơn 28.118 tỷ đồng, tăng 53,5%. Trong khi đó, lợi nhuận sau thuế đạt gần 3.800 tỷ đồng, mức cao nhất từ trước đến nay và gấp hơn 2,3 lần cùng kỳ. Lợi nhuận thuộc cổ đông công ty mẹ đạt 3.125 tỷ đồng.

Hệ sinh thái tiêu dùng của Masan cải thiện đồng đều

Lợi nhuận Masan tăng nhanh hơn đáng kể so với doanh thu. Trong nửa đầu năm, lợi nhuận gộp đạt gần 16.817 tỷ đồng, tăng 41,5%, đưa biên lợi nhuận gộp từ 31,94% lên 32,25%. Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh tăng hơn gấp đôi, đạt 6.512 tỷ đồng, trong khi lợi nhuận trước thuế đạt 6.483 tỷ đồng. Nhờ đó, biên lợi nhuận sau thuế tăng từ khoảng 7% lên 11,1%. Lãi cơ bản trên mỗi cổ phiếu cũng tăng từ 942 đồng lên 2.875 đồng.

Ở nhóm kinh doanh cốt lõi, nền tảng hàng tiêu dùng có thương hiệu tiếp tục giữ vai trò tạo dòng tiền ổn định. Doanh thu nửa đầu năm của mảng này đạt 14.388 tỷ đồng, tăng 12%. Kết quả kinh doanh bộ phận tăng 13,7%, lên 3.486 tỷ đồng. Biên lợi nhuận gộp được cải thiện từ 46,3% lên 47,6%, phản ánh xu hướng chuyển dịch sang các sản phẩm có giá trị cao hơn.

Riêng quý II, Masan Consumer ghi nhận doanh thu 7.165 tỷ đồng, tăng 14,2%. Tăng trưởng chủ yếu đến từ sản lượng, với mức tăng 12,5%, sau khi doanh nghiệp hoàn tất quá trình chuyển đổi hệ thống phân phối trong năm 2025.

CHIN-SU tiếp tục dẫn dắt chiến lược cao cấp hóa, trong khi Nam Ngư phục hồi thị phần. Kokomi duy trì tăng trưởng và ngành đồ uống đóng chai tăng 17,8%. Ngành hóa mỹ phẩm tăng 32,5%, còn doanh thu từ thị trường quốc tế tăng 24%.

Bán lẻ tiêu dùng vẫn là mảng có quy mô doanh thu lớn nhất trong tập đoàn. Doanh thu nửa đầu năm đạt hơn 22.011 tỷ đồng, tăng 25,6%, trong khi kết quả kinh doanh bộ phận tăng 53,2%, lên 306 tỷ đồng.

Trong quý II, WinCommerce, đơn vị vận hành chuỗi WinMart, WinMart+ và WiN, đạt doanh thu 11.629 tỷ đồng, tăng 27,4%. Lợi nhuận sau thuế trước lợi ích cổ đông thiểu số đạt 142 tỷ đồng, gấp 14 lần cùng kỳ; biên lợi nhuận ròng tăng 1,1 điểm phần trăm, lên 1,2%.

WinCommerce mở mới thuần 324 cửa hàng trong quý, nâng tổng số điểm bán trên toàn quốc lên 5.141. Đáng chú ý, hơn 90% số cửa hàng mới đã đạt điểm hòa vốn EBITDA ở cấp độ cửa hàng ngay trong quý đầu hoạt động.

Lợi nhuận thuần sau thuế của hoạt động kinh doanh hợp nhất tại Masan. Ảnh: MSN

Tăng trưởng doanh thu trên cùng cửa hàng đạt 12,4% ở nhóm minimart và 16,3% tại các siêu thị. Doanh thu trung bình ngày của minimart tại khu vực nông thôn đã tương đương khoảng 90% mức của minimart đô thị, qua đó cho thấy dư địa mở rộng của chuỗi không còn giới hạn tại các thành phố lớn.

Masan MEATLife cũng bước sang giai đoạn sinh lời rõ nét hơn. Doanh thu nửa đầu năm đạt 3.410 tỷ đồng, tăng 17,6%. Lợi nhuận gộp tăng gần 32%, còn kết quả kinh doanh bộ phận tăng gần 181%, lên 464 tỷ đồng.

Riêng quý II, doanh thu đạt 2.683 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế trước lợi ích cổ đông thiểu số đạt 191 tỷ đồng, tương ứng biên lợi nhuận 7,1%. Doanh thu của Masan MEATLife qua hệ thống WinCommerce tăng 30,5%, trong khi hai thương hiệu Heo Cao Bồi và Ponnie lần lượt tăng trưởng 21,2% và 45,5%.

Phúc Long Heritage ghi nhận doanh thu quý II đạt 550 tỷ đồng, tăng 26,9%. Chuỗi mở thêm 15 cửa hàng tiêu chuẩn, nâng tổng số cửa hàng độc lập lên 220, chưa bao gồm các kiosk trong hệ thống WinCommerce.

MSR tạo cú hích lợi nhuận

Dù hệ sinh thái tiêu dùng cải thiện đồng đều, yếu tố quyết định đối với mức tăng trưởng lợi nhuận của Masan trong nửa đầu năm lại là mảng vật liệu công nghệ cao.

Doanh thu của Masan High-Tech Materials (UPCoM: MSR) trong sáu tháng đạt 11.131 tỷ đồng, tăng 270%. Lợi nhuận gộp tăng hơn năm lần, còn kết quả kinh doanh bộ phận đạt 2.861 tỷ đồng, gấp hơn sáu lần cùng kỳ. Riêng quý II, MSR đạt doanh thu 8.138 tỷ đồng, gấp năm lần cùng kỳ. Lợi nhuận sau thuế trước lợi ích cổ đông thiểu số đạt 1.666 tỷ đồng, so với mức chỉ 6 tỷ đồng trong quý II/2025.

Kết quả này chủ yếu được hỗ trợ bởi giá APT, sản phẩm trung gian quan trọng trong chuỗi vonfram, đạt bình quân khoảng 3.245 USD/mtu trong quý II, cao hơn gấp đôi kịch bản được xây dựng tại thời điểm đầu năm. Việc nâng công suất nhà máy bằng nguồn nguyên liệu mua ngoài cũng giúp EBITDA của MSR tăng khoảng 4,4 lần.

Sự phục hồi của MSR kéo doanh thu nước ngoài của Masan trong nửa đầu năm tăng từ 2.919 tỷ đồng lên gần 11.180 tỷ đồng. Tỷ trọng doanh thu quốc tế theo đó tăng từ 7,8% lên 21,4%.

Điều này giúp tập đoàn đa dạng hóa nguồn thu ngoài thị trường tiêu dùng trong nước. Tuy nhiên, kết quả kinh doanh cũng trở nên nhạy cảm hơn với giá vonfram, nhu cầu công nghiệp, đầu tư bán dẫn, quốc phòng và chu kỳ hàng hóa toàn cầu.

Cổ phiếu MSR tăng gần 60% trong 1 năm qua. Ảnh: Investing

Bên cạnh MSR, Techcombank tiếp tục là trụ cột lợi nhuận quan trọng. Lãi từ các công ty liên kết của Masan đạt 2.817 tỷ đồng, tương đương hơn 43% lợi nhuận trước thuế. Trong đó, phần lợi nhuận từ Techcombank đạt gần 2.766 tỷ đồng, riêng quý II đóng góp 1.450 tỷ đồng, tăng 19,2%.

Giá trị ghi sổ khoản đầu tư Techcombank tại cuối tháng 6 là 37.177 tỷ đồng, trong khi giá trị thị trường được Masan thuyết minh ở mức 46.825 tỷ đồng.

Khả năng tạo tiền từ hoạt động kinh doanh của Masan đã cải thiện, với dòng tiền thuần nửa đầu năm đạt 3.185 tỷ đồng, gấp 2,5 lần cùng kỳ. Tuy nhiên, con số này mới tương đương khoảng 55% lợi nhuận sau thuế do lượng tiền lớn bị giữ lại trong vốn lưu động.

Hàng tồn kho cuối kỳ đạt 17.257 tỷ đồng, tăng khoảng 60% chỉ trong sáu tháng. Trong đó, hàng mua đang đi đường tăng từ 590 tỷ đồng lên 3.419 tỷ đồng. Các khoản phải thu và tài sản khác hút gần 2.891 tỷ đồng tiền mặt, trong khi tồn kho hút thêm khoảng 6.691 tỷ đồng.

Tổng tài sản của Masan tại ngày 30/6 đạt gần 142.957 tỷ đồng, tăng 11,4% so với đầu năm. Nợ phải trả tăng 12,2%, lên 93.390 tỷ đồng. Tổng dư nợ vay, trái phiếu và thuê tài chính đạt khoảng 69.140 tỷ đồng.

Dù nợ tăng về giá trị tuyệt đối, lợi nhuận và EBITDA tăng nhanh hơn đã giúp tỷ lệ nợ ròng trên EBITDA 12 tháng giảm từ 2,7 lần xuống khoảng 2,4 lần. Khả năng bao phủ chi phí lãi vay cũng tăng từ khoảng 2,2 lần lên 3,4 lần.

Ở chiều ngược lại, tài sản ngắn hạn vẫn thấp hơn nợ ngắn hạn. Hệ số thanh toán hiện hành giảm còn 0,87 lần và vốn lưu động thuần âm hơn 6.600 tỷ đồng. Đây không phải đặc điểm bất thường với doanh nghiệp bán lẻ sử dụng tín dụng nhà cung cấp, song việc tồn kho và phải thu cùng tăng nhanh đặt ra yêu cầu quản trị dòng tiền chặt chẽ hơn.

Masan cũng đã trích lập gần 2.087 tỷ đồng dự phòng cho các khoản đầu tư vào Trusting Social và Nyobolt, tương đương khoảng 71% tổng giá trị đầu tư ban đầu vào hai doanh nghiệp này. Bên cạnh đó, việc xác định tiền cấp quyền khai thác khoáng sản tại Núi Pháo vẫn chưa được giải quyết dứt điểm, tiếp tục là một rủi ro pháp lý và tài chính cần theo dõi.

Dựa trên kết quả sáu tháng, Masan đề xuất nâng kế hoạch năm 2026 lên 98.000–105.000 tỷ đồng doanh thu và 10.000–11.500 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế trước lợi ích cổ đông thiểu số. Lợi nhuận thuộc cổ đông công ty mẹ dự kiến đạt khoảng 8.000 tỷ đồng, gấp đôi năm trước. Kế hoạch điều chỉnh hiện vẫn cần được cổ đông thông qua. Với mức lợi nhuận 5.773 tỷ đồng sau nửa đầu năm, Masan đã hoàn thành khoảng 50–58% mục tiêu mới.

Theo Hoàng Phan/vietnamfinance.vn